TÓM TẮT
Đồng bằng sông Cửu Long có tiềm năng nuôi tôm rất lớn và phong trào
nuôi tôm ở vùng này đang phát triển rất nhanh. Tuy nhiên, dịch bệnh đang là mối
đe dọa nghiêm trọng đến năng suất và sự phát triển bền vững của nghề nuôi tôm
nơi này. Bệnh đốm trắng và bệnh đầu vàng là hai bệnh do vi-rút được xem là nguy
hiểm cho nghề nuôi tôm sú trong suốt thời gian từ những năm 90. Gần đây, hội
chứng hoại tử gan tụy cấp tính chưa rõ nguyên nhân đang gây thiệt hại rất
nghiêm trọng trên cả hai đối tượng nuôi là tôm sú và tôm thẻ chân trắng. Ngoài
ra, còn có bệnh phân trắng ở tôm sú và bệnh đục cơ ở tôm càng xanh cũng đã gây thiệt hại đáng kể cho nghề nuôi tôm trong vùng.
1 GIỚI THIỆU
Nghề nuôi tôm trên thế giới nói chung
và ở Việt Nam nói riêng đang được phát triển
rất nhanh. Tuy nhiên, cùng với sự thâm canh hóa và gia tăng về diện tích nuôi tôm thì dịch bệnh đang là mối đe dọa
nghiêm trọng đến năng suất và sự phát triển
bền vững của nghề nuôi tôm. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là nơi có tiềm năng
nuôi tôm lớn nhất của Việt Nam và phong trào nuôi tôm ở đây đang phát triển rất
nhanh. Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản (2011) thì năm 2011 tổng sản lượng
tôm nuôi của Việt Nam là 402.000 tấn, trong đó hơn 320.000 tấn là từ ĐBSCL. Sự phát triển
của nghề nuôi tôm đã góp phần giải quyết
việc làm và tăng
thu nhập cho nhiều người dân, nhất là người sống ở vùng ven biển thông qua khai thác
diện tích ngập mặn để chuyên nuôi tôm, diện tích trồng lúa để nuôi luân canh
với tôm (tôm sú hay tôm càng xanh), diện tích mương vườn, ruộng ngập lũ,…. Tuy nhiên, sự gia tăng diện tích nuôi, đa dạng hóa đối tượng nuôi và việc thâm canh
hóa của nghề nuôi tôm sử dụng giống sinh sản nhân tạo ở mật độ cao, thức ăn
công nghiệp, sự di nhập tôm giống và tôm bố mẹ,… đã dẫn đến sự xuất hiện và lây lan của nhiều bệnh nguy hiểm, đặc biệt
là bệnh do vi-rút gây ra. Bệnh ở tôm nuôi đã được báo cáo là có ảnh hưởng rất
lớn đến nghề nuôi tôm trên toàn thế giới (Walker and Mohan, 2009; Lightner et al.,
2012a; Flegel, 2012).
Cho đến nay, trên
thế giới đã có khoảng 22 loại vi-rút gây bệnh ở tôm he (tôm biển) được công bố.
Trong danh mục các bệnh nguy hiểm trên tôm được tổ chức Thú y thế giới cảnh báo có vi-rút
gây hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan lập biểu
mô (infectious hypodermal and hematopoietic necrosis virus - IHHNV), vi-rút gây
bệnh đốm trắng (White Spot Syndrome Virus - WSSV), vi-rút gây hội chứng Taura (Taura Syndrome Virus - TSV) và
vi-rút gây bệnh đầu vàng (Yellow Head Virus
- YHV), vi-rút
gây hoại tử cơ (Infectious Myonecrosis Virus - IMNV) và vi-
rút gây bệnh đục cơ ở tôm càng xanh (Macrobrachium
rosenbergii nodavirus – MrNV và extra small
virus - XSV) (OIE, 2010).
Hiện trạng tôm chết trên diện tích rộng
ở ĐBSCL trong nhiều năm qua được xác định là do bệnh đốm trắng và bệnh đầu vàng. Thời gian gần đây, dịch bệnh xảy ra
ngày càng nhiều và trên diện rộng đã gây thiệt hại ngày càng nghiêm trọng;
trong đó đáng quan tâm nhất là hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (acute
hepatopancreatic necrosis syndrome - AHPNS) (Flegel, 2012) hay còn gọi là hội
chứng chết sớm (early mortality syndrome – EMS) (Lightner et al., 2012b) mà chưa rõ nguyên nhân. Ngoài ra, còn có bệnh phân trắng ở tôm sú (Đặng Thị Hoàng Oanh et al., 2008, Nguyễn Thị Hà et
al., 2011) và bệnh đục cơ ở tôm càng xanh (Đặng Thị Hoàng Oanh et al., 2009) cũng đã gây thiệt hại đáng
kể cho nghề nuôi tôm trong vùng. Trong bài báo này chúng tôi trình bày tổng quan về các bệnh nguy hiểm trên tôm nuôi phổ biến hiện nay,
trong đó có lồng ghép các kết quả nghiên cứu của Khoa Thủy sản nhằm cung cấp
thông tin làm cơ sở cho công tác quản lý và
các nghiên cứu tiếp theo để kiểm soát dịch bệnh trên tôm nuôi trong vùng ngày
càng hiệu quả hơn.
2
BỆNH VI-RÚT
Ở TÔM (SHRIMP AND PRAWN
VIRAL DISEASES)
2.1
Bệnh đốm trắng (White Spot Syndrome
Virus - WSSV)
WSSV là vi-rút gây thiệt hại nặng nề
nhất ở tôm nuôi trên thế giới (Walker and Mohan, 2009). Bộ gen của WSSV là ADN dạng vòng xoắn kép, kích thước từ 292- 307 kbp (Lo et al., 1999, van Hulten et
al., 2001a, Yang et al., 2001).
Dấu hiệu bệnh lý ở tôm nhiễm WSSV là những đốm trắng trên vỏ đầu ngực (Hình
1a và 1b), tôm nhiễm bệnh trở nên lờ đờ, tập trung ở gần bờ, giảm ăn
(Chou et al., 1995). Bệnh xuất hiện ở
tất cả các giai đoạn phát triển của tôm, nhưng tỉ lệ chết cao nhất thường xuất hiện từ 1–2 tháng sau thả giống, khi môi trường
nuôi xấu đi và nhất là
khi độ mặn thay đổi, nhiệt độ nước giảm thấp (khoảng từ 23-28°C), tỉ lệ tôm chết có thể lên đến 80-100% trong vòng 5-10 ngày nhiễm
WSSV. WSSV có phổ loài cảm nhiễm rất rộng bao gồm các giáp xác thuộc bộ mười
chân như tôm biển, tôm hùm và cua (Walker và Mohan, 2009). Một số vật chủ
truyền bệnh WSSV như động vật hai mảnh vỏ, giun nhiều tơ, Copepod, một
số loài chân khớp như Isopoda có thể tích lũy WSSV ở mật độ cao mà không biểu hiện bệnh (OIE, 2009).
107
WSSV
có thể lây từ tôm mẹ sang tôm con (Lo et al.,
1997), lây từ nguồn nước,
do tôm ăn nhau hay ăn những loài giáp xác khác (Chou et al., 1998, Kanchanaphum et al., 1998). WSSV cũng tồn tại trong
các mẫu thức ăn tươi sống như mực, ốc mượn hồn, giun nhiều tơ và tôm tít. Qua
Kết quả phân tích bằng phương pháp PCR-genotyping cho thấy ADN của WSSV được
chiết tách từ các mẫu thức ăn tươi sống này có kết quả tương tự các mẫu ADN của
WSSV chiết tách từ tôm sú nuôi ở các ao tôm thuộc khu vực ĐBSCL (Trần Thị Tuyết
Hoa và Nguyễn Thanh Phương, 2011).
Ở Việt Nam, liên tục từ năm 1999 đến nay, hiện trạng tôm bị chết và chết trên diện tích
rộng ở nhiều vùng nuôi tôm trọng điểm đều được báo cáo là do WSSV. Trong
vụ nuôi tôm của năm 2011 thì đến tháng 5/2011 diện thiệt hại do bệnh đốm trắng
gây ra khoảng 423 ha (Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn, 2011). Đặng Thị Hoàng Oanh et al. (2005) cho biết tỉ lệ cảm nhiễm tự nhiên trên tôm bột xét
nghiệm để thả nuôi ở các tỉnh ĐBSCL từ tháng 12/2001 đến tháng 5/2002 là 20,6%
nhưng tỉ lệ này thấp hơn trong giai đoạn từ tháng 2/2003 đến tháng 4/2005 là 7,8
%. Trần Thị Tuyết Hoa et al. (2005)
sử dụng VNTR thuộc ORF94 làm chỉ thị phân tử để đánh giá mức độ khác biệt của
157 dòng WSSV thu từ các trại tôm giống và các ao tôm thuộc nhiều vùng nuôi khác nhau ở ĐBSCL thì thấy rằng tôm giống
có thể là nguồn lây bệnh đốm trắng trong các ao nghiên cứu chứ không phải
là các loài giáp xác tự nhiên. Khi sử dụng chỉ thị phân tử ở 3 vùng VNTR thuộc
ORF75, ORF94 và ORF125 để phân tích sự lan truyền của WSSV giữa các ao nuôi tôm
theo mô hình nuôi quảng canh cải tiến và bán thâm canh thì thấy bệnh đốm trắng
lây lan trong mô hình nuôi quảng canh cải tiến chủ yếu là do nguồn WSSV còn tồn
tại trong ao từ những vụ nuôi trước nhưng lây trong mô hình nuôi bán thâm canh chủ yếu là từ các ao nuôi lân cận (Trần Thị Tuyết Hoa et al., 2011).
Hình 1: Tôm bị
nhiễm WSSV (trái); đốm trắng trên vỏ đầu ngực (giữa); dưới kính hiển vi
điện tử WSSV
có dạng hình trứng, một đầu có phần phụ giống như cái đuôi (phải) (Durand et al., 1997; Nadala et al., 1998). Các protein cấu trúc của
WSSV gồm VP15, VP19, VP24, VP26 và VP28; trong số này thì VP28 tham gia vào quá
trình lây nhiễm (Van Hulten et al.,
2001b)
2.2
Bệnh đầu vàng (Yellow
Head Virus - YHV)
Vi-rút gây bệnh đầu vàng (YHV) trên tôm
được phát hiện đầu tiên ở Thái Lan và được xem là một trong những tác nhân gây bệnh đặc biệt nguy hiểm cho các vùng nuôi tôm thâm canh ở Thái Lan (Flegel
et al., 1995 và 1997). Sau đó, bệnh
đầu vàng được phát hiện ở nhiều nước khác thuộc khu vực Châu Á như Mã Lai (Yang et al., 2000), Việt Nam (Khoa et al., 2000) và Trung Quốc (Lightner, 1996).
Bộ gen của YHV là RNA mạch đơn dương
kích thước khoảng
22 kb, nucleocapsit có dạng hình que và có màng bao (Hình 2). Kết quả nghiên cứu gần đây của
108

Wijegoonawardane et al. (2008) cho biết YHV là một trong ít nhất 6 kiểu gen của
phức hợp vi-rút đầu vàng (5 kiểu gen còn lại là Gill-associated virus-GAV)
trong những mẫu tôm bệnh được nghiên cứu có nguồn gốc từ Mozambique, Ấn Độ, Thái Lan, Mã Lai, Indonesia, Philippines, Việt Nam và Đài Loan. Trong số các kiểu gen thì chỉ có kiểu gen YHV là gây ra dấu hiệu bệnh lý là đầu vàng.
Dấu hiệu bệnh lý đặc trưng của bệnh đầu
vàng là màu vàng sáng ở phần đầu của tôm nhiễm vi-rút (Limsuwan, 1991) (Hình
2a). Màu vàng ở tôm bị nhiễm bệnh là do gan tụy có màu vàng nhìn thấy được qua
lớp vỏ tôm (Boonyaratpalin et al.,
1993, Chantanachookin et al., 1993,
Flegel et al., 1995). Tuy nhiên, dấu
hiệu đầu vàng không phải lúc nào cũng biểu hiện ở tôm bệnh nên không thể dự
chẩn bệnh đầu vàng bằng cách quan sát dấu hiệu bệnh lý (Chantanachookin et al., 1993, Wang et al., 1996). Cường độ cảm nhiễm YHV cao đã được phát hiện ở tôm khỏe
không có biểu hiện bệnh đầu vàng (Flegel et
al., 1997, Flegel et al., 1995).
Bệnh đầu vàng thường xuất hiện ở những ao nuôi tôm có khối lượng từ 5-15 g.
Triệu chứng bệnh đầu vàng có thể được phát hiện sớm nhất ở tôm sú là tôm ăn nhiều bất thường trong một vài ngày, sau đó tôm ngừng ăn hẳn. Sau một vài ngày ngừng
ăn thì xuất hiện tôm chết. Những ngày sau đó số lượng
tôm chết tăng lên nhanh
chóng và tỉ lệ chết lên đến khoảng 50-60% (Limsuwan, 1991). Các thí
nghiệm gây cảm nhiễm nhân tạo cho thấy tỉ lệ tôm chết có thể lên đến 100% trong
vòng 3-5 ngày sau khi có dấu hiệu bệnh lý của bệnh đầu vàng (Lu et al., 1994). Phổ loài nhiễm bệnh của
YHV hẹp hơn so với WSSV; YHV nhiễm chủ yếu trên các loài tôm thuộc họ tôm he.
![]() |
YHV lây nhiễm theo chiều ngang qua thực nghiệm bằng cách tiêm vi-rút trực tiếp vào cơ tôm, cho tôm khỏe ăn tôm bị nhiễm vi-rút hay ngâm tôm trong dung dịch vi-rút (Flegel et al., 1995; Lightner; 1996). Chantanachookin et al. (1993) cho rằng hiện tượng tôm bố mẹ nhiễm YHV mãn tính có thể là xuất xứ của phương thức lây truyền theo chiều dọc. YHV có thể nhiễm trên tôm từ giai đoạn ấu trùng nhưng chỉ gây chết nhiều từ giai đoạn tôm trưởng thành. Thường thì giáp xác được xem là vật mang vi-rút và là vật chủ trung gian truyền YHV vào ao nuôi tôm (Flegel, 1997). Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có chứng cứ về phương thức lây truyền theo chiều dọc của YHV (Walker và Mohan, 2009).
Hình 2: (a)
Tôm có dấu hiệu bệnh đầu vàng (Lightner, 1996); (b) Dưới kính hiển vi điện tử
(Spann et al., 1997) YHV/GAV là những
nidovirus vi rút hình que thuộc giống Okavirusa họ Roniviridae
Ở Việt Nam, các vùng nuôi tôm sú ở các
tỉnh miền Bắc, miền Trung và Nam Bộ đã phát hiện tôm bị nhiễm bệnh đầu vàng và
lượng tôm chết lên đến 100% chỉ trong vài ngày sau khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên (Đỗ Thị Hòa, năm 1996). Năm 1995, Việt Nam đã xác định có
2-3 loài vi-rút gây bệnh cho tôm nuôi; dấu
109
hiệu bệnh lý thấy rõ khi tôm chết là
những đốm trắng dưới vỏ kitin, thân đỏ, chuyển
đầu vàng (Báo con Tôm, số 51, Trang 10). Năm 2003, các tỉnh Bắc Trung Bộ
và Thanh Hóa có hơn 40% diện tích nuôi tôm bị bệnh, thường gặp là bệnh đốm trắng và đầu vàng tập trung ở những
vùng nuôi tôm thâm canh như khu công nghiệp Hoằng Phụ (70/110 ha nuôi tôm bị nhiễm bệnh), Nghệ An (9,1–47,8% diện tích nuôi tôm bị bệnh đốm trắng;
25,6–30,4% bị nhiễm bệnh MBV; và 25–54,5
% bị nhiễm bệnh đầu vàng) (Tạp chí Thuỷ sản số 3 và 4/2004). Đặng Thị
Hoàng Oanh et al. (2007)
đã xác định sự hiện diện của YHV và GAV trên mẫu tôm giống
thả nuôi ở ĐBSCL nhưng với tỉ lệ cảm nhiễm thấp. Trong số 1.253 mẫu tôm sú bột
xét nghiệm có 1,4% số mẫu phân tích nhiễm
YHV và 17,3% nhiễm GAV. Kết quả theo
dõi biểu hiện của bệnh đầu vàng bằng cách thu mẫu định kỳ hàng tháng để xét nghiệm YHV và GAV trên 12 ao tôm sú nuôi công nghiệp
cho thấy đến hết tháng thứ nhất tôm ở các ao đều nhiễm
GAV nhưng tôm vẫn phát triển bình thường. Tuy nhiên, những ao nhiễm YHV có thể bộc phát thành
bệnh và chết đến 100% sau 2-4 ngày
(Nguyễn Minh Hậu, 2006).
2.3
Hiện tượng đa nhiễm vi-rút trên tôm sú giống
Theo
Đặng Thị Hoàng Oanh et al.
(2007) thì hiện tượng đa nhiễm từ hai hay nhiều
vi-rút được phát hiện trên tôm sú giống thả nuôi ở ĐBSCL. Trong
tổng 1.253 mẫu tôm
sú mà nhóm tác giả phân tích từ hai nguồn chủ yếu là tôm sản xuất tại các tỉnh ĐBSCL như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc
Trăng, Trà Vinh và Kiên Giang và tôm chuyển về từ các tỉnh Nam Trung Bộ như
Vũng Tàu, Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa và Đà Nẵng đã xác định tỉ lệ cảm
nhiễm tự nhiên của bốn vi-rút là WSSV, MBV, YHV và GAV như hình 3.
![]() |
Hình 3: Tỉ lệ
đa nhiễm vi-rút trên tôm sú giống (Đặng Thị Hoàng Oanh et al., 2007)
Kết
quả xét nghiệm cho thấy có 1,4% số mẫu phân tích nhiễm YHV; 17,3% nhiễm GAV; 7,8% nhiễm WSSV và 39,4% MBV
và chỉ có 46% số mẫu xét nhiệm là không nhiễm 4 loại vi-rút xét nghiệm
nêu trên. Tỉ lệ mẫu đơn nhiễm một trong bốn
vi-rút xét nghiệm là 45,4 %. Tỉ lệ đa nhiễm các vi-rút trên tôm sú giống là 10,1%,
110
trong
đó tỉ lệ nhiễm kép giữa GAV và MBV là cao nhất là 51,2%, tiếp theo là tỉ lệ nhiễm
kép giữa WSSV và MBV là 22%. Tỉ lệ tôm giống nhiễm 3 vi rút cũng xuất hiện với các trường hợp WSSV-GAV-MBV là 8,7% và GAV-YHV-MBV là 2,1%
(Hình 3). Những mẫu tôm giống mang mầm vi-rút
nếu được thả nuôi, khi có sự tác
động xấu của môi trường sẽ bộc phát thành bệnh và có thể phát triển thành dịch
bệnh trên diện rộng.
2.4
Bệnh đục
cơ ở tôm càng xanh (Macrobrachium
rosenbergii nodavirus –
MrNV và extra small virus - XSV)
Trong số các bệnh thường gặp ở tôm càng
xanh thì bệnh đục cơ là bệnh đã gây thiệt hại ở nhiều nơi như Ấn Độ, Đài Loan, Trung
Quốc và Việt Nam (Qian et al.,
2003; Hameed et al., 2004). Bệnh
đục cơ gây hao hụt lên đến 100% ở tôm bột và cũng gây thiệt hại đáng kể cho tôm trong ao ương hay ao nuôi thịt với tỷ lệ hao hụt có
thể đến 70-80% (Pillai et al.,
2005). Tôm bệnh có những
vùng trắng đục trên cơ (Hình
4) và tôm chết là do hoại tử cơ khắp cơ thể tôm (Hình 5).
![]() |
Hình 4: Tôm bệnh đục cơ quan sát ở
bể ương lúc thu mẫu (hình trái) và ở ao nuôi (hình giữa và phải) (Nguồn: Đặng
Thị Hoàng Oanh et al., 2009)
![]() |
Hình 5: Mô bệnh học TCX bệnh đục cơ. A: Cơ khỏe cắt dọc 40X (H&E).
B và C: Mô cơ nhiễm vi-rút, mũi tên chỉ thể vùi trên cơ hoại tử, 40X (H&E)
(Nguồn: Đặng Thị
Hoàng Oanh et al., 2009)
Bệnh
đục cơ thường xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 6 hằng năm, biểu hiện bệnh lý đầu tiên là xuất hiện những vùng đục
trên cơ ở đốt đuôi hay đốt cơ giữa thân, tiếp đến tôm ngừng lột xác, bỏ ăn,
giảm vận động, phần cơ bị đục lan ra toàn thân và hoại tử. Ở Đài Loan, tác nhân
gây bệnh đục cơ trên tôm càng xanh được xác định là do vi khuẩn Lactococcus
garvieae, là vi khuẩn có dạng hình cầu và Gram dương (Chen et al., 2001). Bệnh đục cơ do vi khuẩn gây ra thường có liên quan
với các yếu tố gây sốc về môi trường như sự thay đổi đột ngột về nhiệt độ và pH. Điều
111
kiện môi trường xấu cũng là nguyên nhân
gây bệnh đục cơ (Yang et al., 2003).
Tuy nhiên, Macrobrachium Nodavirus
(MrNV) và Extra
Small Virus (XSV)
là hai vi-rút được xác định
là tác nhân gây bệnh đục cơ trên tôm càng xanh ở Ấn Độ (Hameed et al., 2004) và ở Việt Nam (Đặng Thị
Hoàng Oanh et al., 2009). Bệnh đục cơ
do vi-rút thường gây tôm chết cấp tính. Tôm bệnh có thể nhiễm một trong hai
vi-rút này hoặc có thể nhiễm cùng lúc hai vi-rút; Theo Đặng Thị Hoàng Oanh et al. (2009) thì qui trình
PCR phát hiện vi-rút gây bệnh đục cơ đã được phát triển
và ứng dụng để xét nghiệm giống tôm càng xanh nuôi ở ĐBSCL.
3
BỆNH PHÂN
TRẮNG (WHITE FEACES
DISEASE)
Bệnh
phân trắng xảy ra trong những năm gần đây ở những khu vực nuôi tôm ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, Tiền Giang và Bến
Tre. Tôm bị bệnh thải ra phân trắng và gan tụy bị teo hay mềm nhũn (Hình 6A)
nên còn gọi là bệnh “phân trắng, teo gan” (Nguyễn Khắc Lâm, 2004).
Kết quả nghiên cứu của Đặng Thị Hoàng
Oanh et al. (2008) cho thấy bệnh phân
trắng không lây lan thành dịch mà xuất hiện tập trung ở một số ao nuôi thâm canh
có mật độ nuôi cao và nuôi theo quy trình ít thay nước. Ngoài ra, bệnh còn tùy thuộc
vào mùa vụ, bệnh có thể xuất hiện tập trung trên vùng tương
đối rộng và gây
thiệt hại đáng kể cho người nuôi tôm. Nhóm tác giả đã thu và phân tích bằng
phương pháp mô bệnh học 220 mẫu tôm thu trong các ao có phân trắng ở Bạc Liêu,
Sóc Trăng và Bến Tre từ tháng 05/2005 đến 05/2006 cho thấy hiện diện nhiều mầm bệnh bao gồm ký sinh trùng, vi
khuẩn và vi-rút (Hình 6B, 6C, 6D, 6E và 6F); các mầm bệnh này nhiễm trên các cơ
quan gan tụy, mang, cơ quan lymphoid và ruột giữa; và hiện tượng đa nhiễm nhiều
mầm bệnh trên cùng một mẫu tôm và trên cùng một cơ quan cũng được ghi nhận.
Gần đây, Nguyễn Thị Hà et al. (2011) phát hiện vi bào tử trùng với tỉ lệ nhiễm cao trên gan tụy của những mẫu tôm bệnh
phân trắng thu ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ
An, Huế, Ninh Thuận, Bạc Liêu và Cà Mau từ năm 2009 đến 2010. Kết quả
phân tích trình tự gen SSU rRNA cho thấy chúng có 98% đồng dạng với trình tự
gen với loài vi bào tử trùng Enterocytozoom hepatopenaei nên nhóm tác giả này
kết luận vi bào tử trùng E. hepatopenaei có liên quan đến bệnh phân trắng ở tôm
sú. Vi bào tử trùng cũng được xem là có liên quan đến bệnh phân trắng trên tôm
thẻ chân trắng ở Thái Lan (Flegel,
2012); qua kết quả phân tích trình tự gen rRNA
cho thấy chúng có 95% đồng dạng với trình tự gen với loài vi bào tử trùng E. hepatopenaei; nên tác giả cho rằng vi bào tử trùng nhiễm trên tôm bệnh phân trắng có thể là một dạng khác của E.
hepatopenaei hoặc là loài vi bào tử mới của giống vi bào tử này. Bên cạnh,
Flegel (2012) cũng nhận thấy một số ít tế bào gan tụy nhiễm vi bào tử trùng tạo
bào tử có thể phát hiện bằng phương pháp nhuộm với hematoxylin và eosin ở vật
kính 100X, các giai đoạn phát triển của chúng rất khó có thể phân biệt với cấu tạo tế bào chất bình thường của gan tụy nhưng qua kết quả lai in situ thì thấy tế bào gan tụy
(trừ tế bào E) bị nhiễm nặng. Tác giả này đưa ra giả thuyết là nhu cầu năng
lượng cung cấp cho sự phát triển của vi bào tử trùng trong gan tụy làm tôm chậm
lớn và dẫn đến tình trạng nhiễm vi khuẩn thứ cấp, nhất là khi tôm bị sốc do môi
trường nuôi bất thuận. Theo Flegel (2012) thì đang có các nghiên cứu để tìm
nguồn lây nhiễm nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của vi bào tử vào hệ thống nuôi tôm.
112


Hình 6: A: Những đoạn phân trắng
thu ở góc ao; B: Gan tôm mềm nhũn, màu trắng sữa; C: Trùng loa kèn trên sợi
mang tôm (1: Epistylis; 2: Zoothamnium; 3: Acineta và 4:
Vorticella,
40X (H&E));D: Gan tuỵ nhiễm khuẩn 40X (H&E); E: Gan tụy đa nhiễm (1:
HPV; 2: MBV và 3: vi khuẩn, 40X (H&E)); và F: Trùng hai tế bào trong xoang
ruột giữa, 40X (H&E) (Nguồn: Đặng Thị Hoàng Oanh et al., 2008)
4 HỘI CHỨNG HOẠI TỬ GAN TỤY CẤP TÍNH (ACUTE
HEPATOPANCREATIC NECROSIS SYNDROME
– AHPNS HAY EARLY MORTALITY SYNDROME – EMS)
Hội
chứng hoại tử gan tụy cấp tính xuất hiện ở Trung Quốc vào năm 2009, sau đó bệnh xuất hiện ở Việt Nam vào năm
2010, rồi đến Thái Lan và Mã- Lai vào năm 2011 (Lightner et al., 2012b; Flegel, 2012). Bệnh xuất hiện ở tôm sú và tôm thẻ
khoảng 20-30 ngày sau khi thả giống, tỉ lệ chết có thể lên đến 100% ở những ao
nhiễm nặng, tôm có dấu hiệu lờ đờ, bỏ ăn, gan tụy teo và có màu sắc nhợt nhạt,
kèm theo đó là những dấu hiệu khác như mềm vỏ, sẫm màu và có đốm trên vỏ đầu ngực, phân tích mô học thì cho thấy
bệnh ảnh hưởng chủ yếu ở gan tụy của tôm (Lightner et al., 2012b). Lightner (Đại học Arizona, Mỹ) mô tả chi tiết về
bệnh lý học của hội chứng hoại tử gan tụy là tình trạng
thoái hóa của gan tụy tiến triển cấp
tính kèm theo là không
có hoạt động phân bào trong tế bào E, rối loại chức năng ở
giữa ngoại biên của tế bào B, F và R, dễ thấy những
tế bào có nhân trương
to, tróc các tế bào biểu mô hình ống và các giai đoạn cuối bao gồm sự tập trung tế bào máu ở giữa ống gan tụy và nhiễm trùng vi
khuẩn thứ cấp (Flegel, 2012). Đặc điểm mô bệnh học tương tự được Prachumwat et al. (2012) mô tả khi quan sát mẫu tôm
bệnh thu ở Thái Lan (Hình 7). Theo Lightner
et al. (2012b) tác nhân gây hội chứng hoại tử gan tụy có thể là độc tố (từ môi trường nuôi, thức ăn hoặc từ vi khuẩn).
Hội chứng hoại tử xuất hiện và diễn
biến phức tạp ở Việt Nam từ năm 2010 đến nay
và gây chết hàng loạt trên tôm nuôi ở các Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh, Bến Tre
và Kiên Giang.
Dấu hiệu bệnh lý của tôm bị bệnh giống
như dấu hiệu mô tả ở
trên là tôm lờ đờ, bỏ ăn và chết, cơ quan gan tuỵ của tôm bị mềm nhũn hoặc teo
dai (Lê Hữu Tài et al.,
2012). Kết quả phân tích mô học của nhóm nghiên cứu này cho
thấy hai trường
hợp hoại tử tương ứng với hai dấu hiệu hoại tử. Dấu hiệu hoại
113
![]() |
tử thứ nhất là các tế bào ống gan tụy bị thoái hóa hoàn toàn và bong tróc vào trong lòng ống, không tìm thấy sự hiện diện của các tác nhân gây bệnh hữu sinh, không có những biến đổi bệnh lý đặc trưng trên tế bào gan tụy khi quan sát dưới kính hiển vi điện tử. Dấu hiệu hoại tử thứ hai là hiện tượng melanin hóa, viêm quanh các ống gan tụy với sự xuất hiện của vô số tế bào máu và sự hiện diện của trực khuẩn Gram âm trong vùng hoại tử.
Hình 7: A: Tế bào gan tụy bị tróc; B: không có hoạt động phân bào trong
tế bào E; C: không có tế bào B, F và R;
D: nhân tế bào trương to; E: Tế bào máu tập trung; và
F: nhiễm khuẩn thứ cấp
(Nguồn: Eduado và Mohan, 2012)
Lê Hồng Phước
et al. (2012) theo dõi diễn biến của hội chứng
hoại tử gan tụy trên 51 mẫu tôm thu theo định kỳ 10
ngày/lần và 35 mẫu thu lúc dịch bệnh tôm nuôi thâm canh ở huyện Trần Đề, Tỉnh Sóc Trăng cho biết dấu hiệu hoại tử gan tụy xuất hiện sớm nhất ở ngày thứ 17 và muộn
nhất vào ngày thứ 77 (nhiều nhất từ 20-45 ngày và tập trung ở giai đoạn 19-31
ngày tuổi). Tất cả mẫu thu từ ao có tôm chết đều ghi nhận dấu hiệu hoại tử gan
tụy (tỷ lệ hoại tử gan tụy 9-90%) và phải thu hoạch sau khi phát hiện hoại tử 2-3 ngày. Nhóm nghiên cứu kết luận là tôm không
có khả năng hồi phục khi bị hoại tử gan tụy. Từ tháng 6-9/2011, Viện nghiên cứu
nuôi trồng thủy sản 2 đã chủ trì thực hiện đề tài “Nghiên cứu các biện pháp
khẩn cấp phòng chống dịch bệnh trên tôm sú và tôm thẻ chân trắng nuôi ở ĐBSCL”
đã khẳng định cypermethrin (thuốc diệt giáp xác thuộc nhóm perythroid) là một trong những nguyên nhân gây ra hội chứng hoại tử gan tụy (Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II, 2011).
Hội
chứng hoại tử gan tụy cũng đã xuất hiện tại một số tỉnh phía Bắc và Duyên
hải miền Trung như Hải Phòng, Nghệ An và Phú Yên. Cuối tháng 5/2012 thì
tình trạng tôm chết hàng loạt bởi hội chứng hoại tử gan tụy ở nhiều tỉnh ĐBSCL
vẫn đang ở mức nghiêm trọng, thiệt hại lên tới 80-90%, với khoảng 930 triệu con giống (chiếm khoảng 50% lượng giống đã
thả nuôi) đã bị chết (Báo Nông nghiệp Việt Nam, số ra ngày 30/05/2012).
114
Mặc dù, cypermethrin đã được xem là nguyên nhân gây hoại tử gan tụy khiến tôm chết hàng loạt ở những vùng nuôi tôm
trong nước (như ở Sóc Trăng, Trà Vinh) nhưng vẫn còn nhiều nguyên nhân khác cần
được làm rõ vì hội chứng hoại tử gan
tụy cũng đã xảy ra ở những nơi mà cypermethrin đã bị cấm sử dụng từ lâu (như ở
Thái Lan).
5
KẾT LUẬN
Cùng với sự phát
triển nhanh chóng của nghề nuôi tôm thì dịch bệnh trên các loài tôm nuôi ở ĐBSCL cũng xảy ra ngày càng nhiều, diễn biến ngày càng phức tạp với
nhiều tác nhân và gây thiệt hại lớn về kinh tế. Trong số các bệnh đã biết tác
nhân thì bệnh đốm trắng vẫn là bệnh nguy hiểm cần được chú trọng đề phòng bằng cách chọn
giống không nhiễm WSSV và thực hiện tốt việc quản lý dịch bệnh trong suốt vụ
nuôi. Đối với hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính thì cần triển khai nghiên cứu ở
nhiều hướng để làm rõ nguyên nhân và tìm giải pháp ngăn chặn để ổn định sản xuất.
Tags







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét